Ngày đăng: 03/09/20

BizLIVE ghi nhận ý kiến và thực tiễn từ những người trong cuộc về sự kiện gạo Việt đạt giá “nghìn đô”…

Để nâng tầm hạt gạo Việt…
Từ trái qua: ông Đỗ Hà Nam, ông Phạm Thái Bình, ông Lê Thanh Tùng, ông Trần Ngọc Thạch

Theo Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu (EU) với Việt Nam (EVFTA), EU cấp hạn ngạch cho gạo Việt Nam 80.000 tấn/năm, thuế suất 0%; trong đó, có 30.000 tấn là gạo thơm các loại.

Số lượng này không là bao so với trên dưới 6,5 triệu tấn gạo/năm mà Việt Nam xuất ra thị trường thế giới. Nhưng xét về giá trị lâu dài, cánh cửa EVFTA sẽ nâng tầm cho gạo Việt Nam.

EVFTA mang lại lợi thế cho gạo thơm Việt Nam, nên ngay khi Hiệp định có hiệu lực, Công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An là doanh nghiệp tiên phong khai thác cơ hội này.

GIÁ GẠO THƠM VIỆT NAM VÀO EU TRÊN 1.000 USD/TẤN

Ông Phạm Thái Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An cho biết, khi EVFTA có hiệu lực Trung An đã ký hợp đồng bán 3.000 tấn gạo thơm ST20 và Jasmine với 3 doanh nghiệp ở Đức, với giá là 1.008 USD/tấn (FOB) tại cảng TP.HCM. Lô hàng đầu tiên xếp vào ngày 27/8 có 6 container (tương đương 150 tấn gạo). Công ty đang đóng hàng để xuất tiếp lô thứ hai.

EU có những quy định rất chặt chẽ về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong hạt gạo. Do vậy, nhiều doanh nghiệp “không dám” xuất qua EU, vì lo nếu bị phát hiện sẽ bị trả hàng, và thực tế đã có nhiều doanh nghiệp bị trả hàng về do tồn dư thuốc BVTV trong gạo.

Để có thể xuất khẩu gạo vào thị trường khó tính, Công ty Trung An đã chuẩn bị vùng nguyên liệu từ năm 2012. Tại các vùng nguyên liệu nay người nông dân phải trồng lúa theo quy trình GlobalGAP.

Công ty Trung An đang có các vùng nguyên liệu ở các tỉnh: Cà Mau (400 ha), Kiên Giang (6.000 ha), Sóc Trăng (1.000 ha) và TP.Cần Thơ (2.000 ha).

Tại tỉnh Kiên Giang, vùng nguyên liệu của Công ty tọa lạc ở các huyện: An Biên, U Minh Thượng, Hòn Đất, Kiên Lương và Giang thành với 6.000 hecta, trong đó Trung An liên kết với nông dân trồng 5.200 ha, Công ty sẽ cung cấp giống, thuốc BVTV, phân bón và bao tiêu đầu ra sản phẩm cho nông dân.

Trong diện tích liên kết người nông dân phải trồng lúa theo đúng quy trình GlobalGAP và Công ty sẽ cử nhân viên theo dõi quy trình sản xuất.

“EU muốn gạo Việt Nam nên khi xuất khẩu sang châu Âu phải có nguồn gốc, xuất xứ từ Việt Nam. Họ làm vậy vì lo doanh nghiệp không có vùng nguyên liệu mà muốn được hưởng ưu đãi thuế rồi đi mua gạo trôi nổi của nước ngoài tái xuất vào EU nên yêu cầu doanh nghiệp xuất gạo sang EU phải có hai loại giấy: một là giấy chứng nhận vùng trồng; hai là giấy xác nhận đúng chủng loại gạo như hợp đồng đã ký. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải cấp 2 loại giấy tờ này.

Xuất khẩu gạo vào EU cơ hội thì nhiều nhưng thách thức không hề nhỏ. Dù khó khăn nếu doanh nghiệp có tâm huyết thì sẽ làm cho đến cùng”, ông Bình khẳng định khi trao đổi với BizLIVE.

DOANH NGHIỆP VẪN CÒN DÈ DẶT

Theo ông Đỗ Hà Nam, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Intimex Group, Công ty Trung An ký hợp đồng bán 3.000 tấn gạo thơm vào thị trường EU là một tín hiệu tốt cho gạo Việt Nam. Nhiều năm qua gạo Việt Nam vẫn vào được thị trường EU nhưng rất trầy trật vì EU đánh thuế quá cao, bây giờ vấn đề thuế đã được giải quyết thì vấn đề chất lượng gạo vào EU mới là quan trọng.

Mặc dù EVFTA đã có hiệu lực từ ngày 01/8, nhưng do EU quy định quá chặt chẽ về chất lượng gạo nên đến nay các doanh nghiệp vẫn còn trong giai đoạn “nhìn ngó” lẫn nhau.

Trên thực tế gạo Việt Nam khi xuất vào một số thị trường chất lượng cao thường gặp rủi ro về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, đặc biệt là thị trường Mỹ cho nên về mặt tâm lý doanh nghiệp còn đang dè chừng.

Nếu sản xuất lúa gạo đảm bảo được tất cả các tiêu chuẩn kỹ thuật của EU thì sản phẩm mới bán được vào thị trường này và ổn định. Đó là cơ hội để các doanh nghiệp khác tiếp tục đầu tư, nhưng điều mà mọi người quan tâm hơn hết là năng suất lúa sẽ thấp và liệu giá bán gạo có bù sản lượng?

“Sự kiện Trung An được coi là bước tiên phong, song các doanh nghiệp vẫn còn dè dặt đối với thị trường EU, vì các tiêu chuẩn kỹ thuật là điều mà doanh nghiệp lo lắng nhiều nhất. Vì vậy mọi người còn chờ đợi và quan sát xem mặt hàng gạo đầu tiên áp dụng hạn ngạch của EVFTA khi xuất sang thị trường EU sẽ ra sao, các quy trình tiếp nhận và kết quả như thế nào, vì có những thị trường cao cấp có mức thuế suất thấp hơn nhưng gạo Việt Nam vẫn không vào được do liên quan đến việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV... Đây là những yếu tố mà EU rất quan tâm, nếu phát hiện sẽ bị trả về”, ông Nam chia sẻ.

GẠO VIỆT TÍNH ĐƯỜNG DÀI

Theo TS. Lê Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nếu xét về số lượng thì con số 80 ngàn tấn gạo xuất khẩu vào thị trường EU, so với 6,5 triệu tấn gạo Việt Nam xuất khẩu hàng năm là không lớn, nhưng xét về chất lượng về giá trị tìm ẩn là rất lớn.

Thứ nhất, đây là cơ hội để gạo của Việt Nam sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế như GlobalGAP hoặc là các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm... Trước đây do không có thị trường hoặc là bán với giá gạo thường nên không thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân. Nay đi vào thị trường EU với những yêu cầu chặt chẽ về chất lượng và những tiêu chuẩn cao hơn của EU, người nông dân hoàn toàn có thể đáp ứng được và khi gạo bán được giá cao sẽ tạo động lực cho bà con và các trang trại, HTX và doanh nghiệp để gạo Việt Nam đi vào các thị trường khác rộng lớn hơn.

Có thể xem thị trường EU là điểm khởi phát để gạo Việt Nam đi vào các thị trường chất lượng cao khác, khi được thị trường EU chấp nhận sẽ tạo thành thương hiệu cho gạo Việt Nam và đây sẽ là một giá trị vô hình. Đây chính là cơ hội để Việt Nam xây dựng thương hiệu gạo, và ngoài gạo ra còn có các sản phẩm khác.

THỪA KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG TIÊU CHUẨN EU, NHƯNG…

Theo TS. Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, khi chưa có EVFTA các doanh nghiệp Việt Nam vẫn xuất khẩu gạo vào thị trường EU nhưng với mức thuế suất rất cao, tùy theo từng nước mà có mức thuế suất dao động từ 5% đến 45%. Tuy nhiên, do châu Âu dành cho một số nước nghèo như Campuchia, Lào, Myanmar được hưởng thuế suất bằng 0% nên gạo Việt Nam rất khó cạnh tranh tại đây, vì đa phần doanh nghiệp EU muốn mua gạo của Campuchia, Lào hay Myanmar để được hưởng ưu đãi thuế, nhưng sau này chất lượng gạo Campuchia không còn ổn định như lúc đầu.

Riêng gạo Thái Lan tuy không được ưu đãi về thuế và chất lượng cũng không hơn gạo Việt Nam, nhưng vì gạo Thái Lan đã xây dựng được thương hiệu từ rất lâu và được người tiêu dùng trên thế giới ưa chuộng. Vì vậy, gạo Thái Lan vẫn giá cao hơn gạo Việt Nam.

“Việt Nam có nhiều giống lúa cho chất lượng gạo rất ngon. Nông dân và doanh nghiệp Việt Nam có thừa khả năng sản xuất lúa gạo đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật do EU đặt ra. Nhưng vấn đề hiện nay là mọi người chưa chú trọng cũng như còn dè dặt trong việc xây dựng thương hiệu gạo. Và điều cần quan tâm hơn nữa là vấn đề cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu gạo trong nước.

Sau khi Trung An ký hợp đồng bán gạo với giá 1.000 USD/tấn, liệu các doanh nghiệp bán sau có hạ giá để giành khách hàng? Vì vấn đề này đã từng xảy ra với con cá tra và nhiều sản phẩm nông sản khác của Việt Nam”, ông Thạch nêu vấn đề.

Nguồn: https://nhipsongdoanhnghiep.cuocsongantoan.vn/

Dự án

  • VIDEO CLIP

Quảng cáo